Hồi giáo > Vi > Hadith > Giao luat thuc hanh va bang chung > Thiên Sứ của Allah ﷺ đã dạy cho tôi Tashahhud, hai bàn tay Người nắm lấy bàn tay tôi, Ngườ…
Sahih (chính xác)Cập nhật lúc 26 tháng 10 2026 23h26
📖 2 phút đọcعَنِ ابْنَ مَسْعُودٍ رضي الله عنه قَالَ: عَلَّمَنِي رَسُولُ اللَّهِ صَلَّى اللهُ عَلَيْهِ وَسَلَّمَ، وَكَفِّي بَيْنَ كَفَّيْهِ، التَّشَهُّدَ، كَمَا يُعَلِّمُنِي السُّورَةَ مِنَ القُرْآنِ: «التَّحِيَّاتُ لِلَّهِ، وَالصَّلَوَاتُ وَالطَّيِّبَاتُ، السَّلاَمُ عَلَيْكَ أَيُّهَا النَّبِيُّ وَرَحْمَةُ اللَّهِ وَبَرَكَاتُهُ، السَّلاَمُ عَلَيْنَا وَعَلَى عِبَادِ اللَّهِ الصَّالِحِينَ، أَشْهَدُ أَنْ لاَ إِلَهَ إِلَّا اللَّهُ، وَأَشْهَدُ أَنَّ مُحَمَّدًا عَبْدُهُ وَرَسُولُهُ».
وفي لفظ لهما: «إِنَّ اللهَ هُوَ السَّلَامُ، فَإِذَا قَعَدَ أَحَدُكُمْ فِي الصَّلَاةِ فَلْيَقُلْ: التَّحِيَّاتُ لِلَّهِ وَالصَّلَوَاتُ وَالطَّيِّبَاتُ السَّلَامُ عَلَيْكَ أَيُّهَا النَّبِيُّ وَرَحْمَةُ اللهِ وَبَرَكَاتُهُ، السَّلَامُ عَلَيْنَا وَعَلَى عِبَادِ اللهِ الصَّالِحِينَ، فَإِذَا قَالَهَا أَصَابَتْ كُلَّ عَبْدٍ لِلَّهِ صَالِحٍ فِي السَّمَاءِ وَالْأَرْضِ، أَشْهَدُ أَنْ لَا إِلَهَ إِلَّا اللهُ، وَأَشْهَدُ أَنَّ مُحَمَّدًا عَبْدُهُ وَرَسُولُهُ، ثُمَّ يَتَخَيَّرُ مِنَ الْمَسْأَلَةِ مَا شَاءَ».
Nabi ﷺ đã dạy Ibnu Mas’ud bài Tashahhud trong Salah, và hai bàn tay Người nắm lấy bàn tay của ông, ý nghĩa muốn cho Ibnu Mas’ud chăm chú lắng nghe lời dạy, giống như việc Người đã từng dạy ông một chương Kinh Qur’an, để cho ông nắm vững câu từ và ý nghĩa. Người nói: “At ta hi da tu lil l.a.h”: Mỗi lời nói hay hành động đều thể hiện sự tôn kính, tất cả đều thuộc về Allah Toàn Năng. “as so la wa tu”: Là hình thức Salah như đã biết, cả hai hình thức bắt buộc và khuyến khích đều vì Allah Tối Cao. “Ot toi yi b.a.t”: Đó là những lời nói, việc làm tốt và những mô tả biểu thị sự hoàn hảo, tất cả đều xứng đáng thuộc về Allah Tối Cao. “As sa la mu ‘a lây ka ây du hanh na bi du wa roh ma tul lo hi wa ba ro ka tuh”: Cầu nguyện cho Nabi được an toàn khỏi mọi phiền não và tổn hại, và được gia tăng và dồi dào mọi điều tốt lành. “As sa la mu ‘a lây na wa ‘a la ‘i ba đil la his so li h.i.n”: Cầu nguyện sự an lành cho người hành lễ và cho tất cả tín đồ ngoan đạo ở trên trời và dưới đất. “Ash ha đu al la i la ha il lol l.o.h”: nghĩa là tôi thừa nhận rằng không có Thượng Đế đích thực nào ngoài Allah. “wa anh na Mu ham ma đanh ‘ab đu hu wa ro su luh”: Tôi chứng nhận rằng Người là nô lệ và là Sứ Giả cuối cùng.
Sau đó, Nabi ﷺ khuyên người hành lễ Salah hãy cầu xin những điều mình muốn.
Danh mục : Giáo luật thực hành về thờ phượng · Lễ nguyện Salah · Giáo luật thực hành và bằng chứng · Cách thức của lễ nguyện Salah