Muhammad Hamidullah
Trang 535 của Mushaf chứa 34 câu. Nó thuộc Juz 27, Hizb 54.
Cập nhật lúc 10 tháng 7 2026 03h52
coran.read_full_page : Đọc Trang 535 Kinh Qur'an →
يَطُوفُ عَلَيْهِمْ وِلْدَٰنٌۭ مُّخَلَّدُونَ ﴿١٧﴾
Những chàng trai thiếu niên trẻ mãi sẽ đi vòng quanh họ hầu hạ.
بِأَكْوَابٍۢ وَأَبَارِيقَ وَكَأْسٍۢ مِّن مَّعِينٍۢ ﴿١٨﴾
Chúng mang những chiếc cốc, những chiếc bình và những chiếc ly (rượu) được lấy từ một dòng suối (của Thiên Đàng).
لَّا يُصَدَّعُونَ عَنْهَا وَلَا يُنزِفُونَ ﴿١٩﴾
(Khi uống), họ sẽ không bị đau đầu và cũng không bị mất trí.
وَفَـٰكِهَةٍۢ مِّمَّا يَتَخَيَّرُونَ ﴿٢٠﴾
Sẽ có đủ loại trái quả cho họ tha hồ lựa chọn.
وَلَحْمِ طَيْرٍۢ مِّمَّا يَشْتَهُونَ ﴿٢١﴾
Sẽ có đủ loại thịt chim mà họ ưa thích.
وَحُورٌ عِينٌۭ ﴿٢٢﴾
Sẽ có những trinh nữ với đôi mắt to tuyệt đẹp.
كَأَمْثَـٰلِ ٱللُّؤْلُؤِ ٱلْمَكْنُونِ ﴿٢٣﴾
(Các nàng trinh nữ đó) trông giống như những viên ngọc trai được cất kỹ.
جَزَآءًۢ بِمَا كَانُوا۟ يَعْمَلُونَ ﴿٢٤﴾
Một phần thưởng dành cho những việc làm ngoan đạo mà họ đã làm (trên thế gian).
لَا يَسْمَعُونَ فِيهَا لَغْوًۭا وَلَا تَأْثِيمًا ﴿٢٥﴾
Trong (Thiên Đàng), họ sẽ không còn nghe những lời sàm bậy và những điều tội lỗi.
إِلَّا قِيلًۭا سَلَـٰمًۭا سَلَـٰمًۭا ﴿٢٦﴾
Mà chỉ (còn nghe) những lời chào bằng an phúc lành.
وَأَصْحَـٰبُ ٱلْيَمِينِ مَآ أَصْحَـٰبُ ٱلْيَمِينِ ﴿٢٧﴾
Nhóm những người của tay phải - những người của tay phải là ai?
فِى سِدْرٍۢ مَّخْضُودٍۢ ﴿٢٨﴾
(Họ là những người sẽ ở) giữa những cây táo không gai.
وَطَلْحٍۢ مَّنضُودٍۢ ﴿٢٩﴾
Giữa những cây chuối ra trái chồng lên nhau.
وَظِلٍّۢ مَّمْدُودٍۢ ﴿٣٠﴾
Có bóng mát tỏa rộng.
وَمَآءٍۢ مَّسْكُوبٍۢ ﴿٣١﴾
Có dòng nước chảy tràn trề.
وَفَـٰكِهَةٍۢ كَثِيرَةٍۢ ﴿٣٢﴾
Có trái quả phong phú (và đa dạng).
لَّا مَقْطُوعَةٍۢ وَلَا مَمْنُوعَةٍۢ ﴿٣٣﴾
(Trái quả) không giới hạn theo mùa và cũng không thiếu hụt.
وَفُرُشٍۢ مَّرْفُوعَةٍ ﴿٣٤﴾
Có những chiếc giường cao.
إِنَّآ أَنشَأْنَـٰهُنَّ إِنشَآءًۭ ﴿٣٥﴾
Thật vậy, (những nàng tiên nữ trong Thiên Đàng), TA đã tạo ra họ bằng một sự tạo hóa (đặc biệt).
فَجَعَلْنَـٰهُنَّ أَبْكَارًا ﴿٣٦﴾
TA làm cho họ luôn mãi trinh tiết.
عُرُبًا أَتْرَابًۭا ﴿٣٧﴾
Họ cùng trang lứa và chỉ yêu chồng của mình.
لِّأَصْحَـٰبِ ٱلْيَمِينِ ﴿٣٨﴾
Dành cho những người của tay phải.
ثُلَّةٌۭ مِّنَ ٱلْأَوَّلِينَ ﴿٣٩﴾
Một nhóm thuộc các thế hệ đầu.
وَثُلَّةٌۭ مِّنَ ٱلْـَٔاخِرِينَ ﴿٤٠﴾
Một nhóm thuộc các thế hệ sau.
وَأَصْحَـٰبُ ٱلشِّمَالِ مَآ أَصْحَـٰبُ ٱلشِّمَالِ ﴿٤١﴾
Nhóm những người của tay trái - những người của tay trái là ai?
فِى سَمُومٍۢ وَحَمِيمٍۢ ﴿٤٢﴾
(Họ sẽ) ở giữa luồng gió cực nóng và nước cực sôi.
وَظِلٍّۢ مِّن يَحْمُومٍۢ ﴿٤٣﴾
Trong đám khói đen.
لَّا بَارِدٍۢ وَلَا كَرِيمٍ ﴿٤٤﴾
Không mát mẻ cũng không dễ chịu.
إِنَّهُمْ كَانُوا۟ قَبْلَ ذَٰلِكَ مُتْرَفِينَ ﴿٤٥﴾
Bởi quả thật trước đó, chúng đã ham thích cuộc sống xa hoa (của cõi trần, không màng gì đến cuộc sống Đời Sau).
وَكَانُوا۟ يُصِرُّونَ عَلَى ٱلْحِنثِ ٱلْعَظِيمِ ﴿٤٦﴾
Chúng đã ngoan cố phạm các tội lớn.
وَكَانُوا۟ يَقُولُونَ أَئِذَا مِتْنَا وَكُنَّا تُرَابًۭا وَعِظَـٰمًا أَءِنَّا لَمَبْعُوثُونَ ﴿٤٧﴾
Và chúng thường nói: “Lẽ nào khi chúng ta đã chết và đã thành cát bụi, chúng ta thực sự được dựng sống trở lại ư?”
أَوَءَابَآؤُنَا ٱلْأَوَّلُونَ ﴿٤٨﴾
“Và kể cả tổ tiên (xa xưa) của chúng ta (cũng được dựng sống lại) ư?”
قُلْ إِنَّ ٱلْأَوَّلِينَ وَٱلْـَٔاخِرِينَ ﴿٤٩﴾
Ngươi (Thiên Sứ Muhammad) hãy nói với chúng: “Thật vậy, cả các thế hệ trước đây và các thế hệ sau này.”
لَمَجْمُوعُونَ إِلَىٰ مِيقَـٰتِ يَوْمٍۢ مَّعْلُومٍۢ ﴿٥٠﴾
“Tất cả sẽ được tập kết cho một Ngày Hẹn đã được ấn định.”