Muhammad Hamidullah
Surah An-Naziat (النازعات) là surah Makki của Kinh Qur'an với 46 câu. Hãy đọc, nghe và ghi nhớ surah này bằng các công cụ tương tác của chúng tôi.
Cập nhật lúc 10 tháng 7 2026 03h52
📖 2 phút đọccoran.read_full_page : Đọc Surah An-Naziat →
إِذْ نَادَىٰهُ رَبُّهُۥ بِٱلْوَادِ ٱلْمُقَدَّسِ طُوًى ﴿١٦﴾
Lúc Thượng Đế của Y gọi Y nơi thung lũng thiêng liêng của ngọn núi Tuwa.
ٱذْهَبْ إِلَىٰ فِرْعَوْنَ إِنَّهُۥ طَغَىٰ ﴿١٧﴾
(Ngài phán bảo Y): “Ngươi hãy đi gặp Pha-ra-ông. Hắn quả thật đã quá mức tội lỗi.”
فَقُلْ هَل لَّكَ إِلَىٰٓ أَن تَزَكَّىٰ ﴿١٨﴾
“Ngươi hãy nói với hắn: Ngài có muốn được tẩy sạch tội lỗi không?”
وَأَهْدِيَكَ إِلَىٰ رَبِّكَ فَتَخْشَىٰ ﴿١٩﴾
“Tôi sẽ hướng dẫn ngài đến với Thượng Đế của ngài mong rằng ngài sẽ biết kính sợ.”
فَأَرَىٰهُ ٱلْـَٔايَةَ ٱلْكُبْرَىٰ ﴿٢٠﴾
(Sau đó) Musa đã cho (Pha-ra-ông) xem một phép lạ vĩ đại.
فَكَذَّبَ وَعَصَىٰ ﴿٢١﴾
Tuy nhiên, (Pha-ra-ông) đã phủ nhận và không theo.
ثُمَّ أَدْبَرَ يَسْعَىٰ ﴿٢٢﴾
Rồi hắn quay mặt bỏ đi và cố tìm cách chống lại.
فَحَشَرَ فَنَادَىٰ ﴿٢٣﴾
Rồi hắn đã triệu tập dân chúng và tuyên bố.
فَقَالَ أَنَا۠ رَبُّكُمُ ٱلْأَعْلَىٰ ﴿٢٤﴾
Hắn nói: “Ta chính là Thượng Đế tối cao của các ngươi.”
فَأَخَذَهُ ٱللَّهُ نَكَالَ ٱلْـَٔاخِرَةِ وَٱلْأُولَىٰٓ ﴿٢٥﴾
Vì vậy, Allah đã trừng phạt hắn với hình phạt của Đời Sau và đời này.
إِنَّ فِى ذَٰلِكَ لَعِبْرَةًۭ لِّمَن يَخْشَىٰٓ ﴿٢٦﴾
Quả thật, trong câu chuyện đó là một bài học cho ai biết kính sợ (Allah).
ءَأَنتُمْ أَشَدُّ خَلْقًا أَمِ ٱلسَّمَآءُ ۚ بَنَىٰهَا ﴿٢٧﴾
Việc tạo các ngươi khó hay việc TA đã dựng bầu trời khó hơn?
رَفَعَ سَمْكَهَا فَسَوَّىٰهَا ﴿٢٨﴾
Ngài (Allah) đã nhấc (bầu trời) lên cao và cân đối nó.
وَأَغْطَشَ لَيْلَهَا وَأَخْرَجَ ضُحَىٰهَا ﴿٢٩﴾
Ngài đã làm cho ban đêm của nó trở thành tối và làm cho nó sáng trở lại vào ban mai.
وَٱلْأَرْضَ بَعْدَ ذَٰلِكَ دَحَىٰهَآ ﴿٣٠﴾
Sau đó, Ngài đã trải rộng mặt đất bằng phẳng.
أَخْرَجَ مِنْهَا مَآءَهَا وَمَرْعَىٰهَا ﴿٣١﴾
Từ đất, Ngài đã cho nước phún ra và làm mọc ra những đồng cỏ.
وَٱلْجِبَالَ أَرْسَىٰهَا ﴿٣٢﴾
Và những quả núi, Ngài đã đặt chúng vững chắc.
مَتَـٰعًۭا لَّكُمْ وَلِأَنْعَـٰمِكُمْ ﴿٣٣﴾
(Tất cả) đều là nguồn lợi cho các ngươi và gia súc của các ngươi.
فَإِذَا جَآءَتِ ٱلطَّآمَّةُ ٱلْكُبْرَىٰ ﴿٣٤﴾
Nhưng khi đại họa xảy đến.
يَوْمَ يَتَذَكَّرُ ٱلْإِنسَـٰنُ مَا سَعَىٰ ﴿٣٥﴾
Đó là Ngày mà con người sẽ nhớ lại tất cả những gì mình đã làm (trên thế gian).
وَبُرِّزَتِ ٱلْجَحِيمُ لِمَن يَرَىٰ ﴿٣٦﴾
(Vào Ngày đó), Hỏa Ngục sẽ được phơi bày cho nhìn thấy.
فَأَمَّا مَن طَغَىٰ ﴿٣٧﴾
Đối với ai vượt quá giới hạn (của Allah).
وَءَاثَرَ ٱلْحَيَوٰةَ ٱلدُّنْيَا ﴿٣٨﴾
Và yêu thích đời sống trần tục này.
فَإِنَّ ٱلْجَحِيمَ هِىَ ٱلْمَأْوَىٰ ﴿٣٩﴾
Chắc chắn Hỏa Ngục sẽ là nơi trú ngụ.
وَأَمَّا مَنْ خَافَ مَقَامَ رَبِّهِۦ وَنَهَى ٱلنَّفْسَ عَنِ ٱلْهَوَىٰ ﴿٤٠﴾
Đối với người kính sợ Thượng Đế của y và luôn ngăn cản bản thân tránh những dục vọng thấp hèn.
فَإِنَّ ٱلْجَنَّةَ هِىَ ٱلْمَأْوَىٰ ﴿٤١﴾
Chắc chắn Thiên Đàng sẽ là chỗ ở.
يَسْـَٔلُونَكَ عَنِ ٱلسَّاعَةِ أَيَّانَ مُرْسَىٰهَا ﴿٤٢﴾
(Những kẻ phủ nhận Sự Phục Sinh), chúng thường hỏi Ngươi (Thiên Sứ Muhammad) về giờ khắc đó khi nào sẽ xảy đến.
فِيمَ أَنتَ مِن ذِكْرَىٰهَآ ﴿٤٣﴾
Ngươi chẳng cần lo ngại gì để nói về điều đó (bởi Ngươi không hề biết).
إِلَىٰ رَبِّكَ مُنتَهَىٰهَآ ﴿٤٤﴾
Chỉ Thượng Đế của Ngươi mới thực sự biết thời hạn của nó.
إِنَّمَآ أَنتَ مُنذِرُ مَن يَخْشَىٰهَا ﴿٤٥﴾
Quả thật, Ngươi chỉ là một người cảnh báo cho những ai có lòng kính sợ.
كَأَنَّهُمْ يَوْمَ يَرَوْنَهَا لَمْ يَلْبَثُوٓا۟ إِلَّا عَشِيَّةً أَوْ ضُحَىٰهَا ﴿٤٦﴾
Vào Ngày chúng nhìn thấy nó, chúng sẽ cảm thấy như thể chúng đã ở lại trần gian chỉ trong một buổi chiều hoặc chỉ trong một buổi sáng!